Tăng trưởng và lợi nhuận bằng Dinh Dưỡng Chuẩn Xác

Enzyme và synthetic amino acid đã được dùng để cải thiện chất lượng công thức thức ăn cho gia cầm và lợn, nhưng làm thế nào tăng sự chuẩn xác của hệ thống này và phân phát thức ăn hiệu quả hơn. 

AERIN EINSTEIN-CURTIS Feedstrategy- July 2020

Landrace pig eating from plastic hog feeder on modern plastic flooring on ranch

Cần nhiều nghiên cứu hơn về cách cung cấp chất dinh dưỡng hiệu quả cho con vật ở các giai đoạn thiết yếu; khi đối mặt với dịch bệnh hoặc môi trường khắc nghiệt, và trong hệ thống chăn nuôi không sử dụng kháng sinh” Jevtic/istock.com

Phương pháp dinh dưỡng chuẩn xác trong chăn nuôi lợn và gia cầm giúp nhà sản xuất tránh lãng phí các chất dinh dưỡng và giảm chi phí thức ăn, đồng thời giải quyết phần nào những vấn đề môi trường và những khó khăn trong sản xuất. 

Ông Candido Pomar, nhà nghiên cứu khoa học  tại trung tâm Nông Nghiệp và Sản Phẩm Nông Nghiệp Canada, cho rằng hệ thống cho ăn chuẩn xác (precision feeding) giúp các nhà sản xuất cung cấp đúng và vừa đủ các chất dinh dưỡng cần thiết.  Các nghiên cứu của ông về dinh dưỡng chuẩn xác trong chăn nuôi lợn, phát triển và sử dụng mô hình toán học vào hệ thống cho ăn chuẩn xác và hệ thông chăn nuôi. 

Lợi ích của dinh dưỡng chuẩn xác

Theo ông Polmar, công nghệ dinh dưỡng chuẩn xác mang lại nhiều lợi ích, bao gồm giảm lượng thức ăn sử dụng và chi phí chăn nuôi khoảng 8%; giúp người chăn nuôi dự đoán chính xác hơn thời gian xuất lợn vào lò mổ; và giảm áp lực lên môi trường. Phương pháp này có thể giảm 30% lượng nitrogen thải ra, và dự kiến sẽ cao hơn sau khi công nghệ này được cải tiến hoàn thiện. 

“Lợi ích đầu tiên khi sử dụng công nghệ này là chi phí, tiếp theo là giảm lượng nitrogen và phosphorus sản sinh, (và) đã một số nhóm nghiên cứu về những lợi ích khác như là phát hiện sớm dịch bệnh” Polmar chia sẻ. 

“Đối với nhà sản xuất, tất cả các cách giúp giảm lượng thức ăn chăn nuôi… hoặc chi phí liên quan đến thức ăn là cực kỳ quan trọng. Nó là yếu tố trọng yếu dẫn đến lợi nhuận cho các doanh nghiệp” Hostetler thêm vào. 

Công thức dinh dưỡng cho lợn và gia cầm đã được cải tiến rất nhiều, như là việc sử dụng synthetic amino acid và enzyme trong thức ăn. Tuy nhiên, một số khía cạnh dinh dưỡng khác vẫn chưa được phát triển, theo ông Michael Liburn – giáo sư danh dự của khoa học động vật tại đại học bang Ohio, và ông Chris Hostetler – giám đốc khoa học động vật tại Hội Đồng Chăn Nuôi Lợn Quốc Gia .

Protein lý tưởng, các quan tâm về môi trường. 

Khả năng bổ sung từng loại amino acid đã làm thay đổi cách làm công thức thức ăn, Lilburn nhận xét. Trong sản xuất gà thịt hiện nay, lysine được thêm vào ở hàm lượng cao để tạo thêm nhiều thịt trắng hơn. Theo Lilburn, thay vì chú tâm vào từng amino acid cụ thể, ta có thể sử dụng các chất bổ sung để đạt được tỉ lệ protein lý tưởng trong chế độ thức ăn cân bằng. 

“Ở góc độ chuẩn xác, việc sử dụng tỉ lệ protein lý tưởng- tất cả amino acid theo phần trăm của hàm lượng lysine – và việc sử dụng synthetic amino acid, là thay đổi lớn nhất về cách làm dinh dưỡng” ông ấy nói. 

Hosteller cho rằng các nhà sản xuất  có thể thay đổi các nguyên liệu sử dụng và sự phức tạp của thức ăn chăn nuôi bằng cách bổ sung synthetic amino acid và sử dụng phần mềm công thức tiên tiến. “Thay vì chỉ dựa vào bột đậu nành và ước lượng protein thô của bột đậu nành để cung cấp lượng amino acid cần thiết… ta có thể sử dụng thêm synthetic lysine và từ đó có thể giảm lượng bột đậu nành sử dụng” ông ấy nói. 

Thêm vào đó, sử dụng enzyme có thể giảm chi phí thức ăn bằng cách tăng khả năng khả dụng của chất dinh dưỡng trong nguyên liệu, và giúp giảm lượng phosphorus thải ra môi trường trong sản xuất gia cầm. “ Nhiều năm qua chúng ta sử dụng synthetic phosphorus trong dinh dưỡng và đã thải ra một lượng phosphorus lớn vào môi trường.” ông Lilburn nhận xét. Phosphorus trong nguyên liệu thực vật nằm ở dạng phytic acid hoặc phytate phosphorus, và gia cầm không thể hấp thu được dạng này. Các enzyme như là phytase có thể giải phóng phosphorus để dễ hấp thu, từ đó giảm phosphorus thải ra môi trường. Không những thế, ông Lilburn cho rằng chúng ta có thể mở rộng những áp dụng của enzyme lên những nguyên tố dinh dưỡng khác, như là phân hóa tinh bột và protein. 

Các nhà chăn nuôi lợn đã sử dụng enzymes để tăng hàm lượng dinh dưỡng trong thức ăn, và giảm hàm lượng dinh dưỡng bị lãng phí. “Đã có một số nhà sản xuất quan tâm hơn về mức ảnh hưởng của thức ăn chăn nuôi lên môi trường”, Hostetler nhận xét. Trong tương lai, với hệ thống sản xuất toàn diện, chúng ta có đạt đến việc tối ưu hóa thức ăn cho lợn, và trồng các loại nguyên liệu được bón phân với những con vật ấy. Chúng ta ở một giai đoạn mà nhà sản xuất quan tâm hơn về làm thế nào  thay đổi nguyên liệu và công nghệ sử dụng trong thức ăn để giảm ảnh hưởng xấu lên môi trường. 

cần thêm nghiên cứu

Thức ăn chăn nuôi thường được thiết kế theo nhóm khối lượng và nhu cầu, vì thế, việc cho ăn theo từng cá thể không hề dễ dàng, Polmar nhận xét. Vì thế, ta cần đến một số mô hình công thức và feeder mới có thể cung cấp thức ăn từng con lợn trong sản xuất thương mại. Theo Polmar, hệ thống này sẽ sử dụng thức ăn cơ bản, và sau đó trộn nhiều loại dinh dưỡng phù hợp cho từng con lợn và cung cấp cho nó. Phương pháp này có thể cung cấp ít dinh dưỡng hơn cho những con lợn nặng ký và cung cấp nhiều dinh dưỡng cho các con vật nhỏ hơn. 

Nhiều cơ sở chăn nuôi lợn ở Châu Âu đã sẵn sàng tiến đến phương pháp dinh dưỡng chuẩn xác, Polmar nói. “Họ nhận ra rằng sử dụng công nghệ này không chỉ là đơn thuần là thay đổi feeders, máy móc, hoặc xây một silo khác – nó sẽ phức tạp hơn rất nhiều – và họ sẽ phải thay đổi cách họ vận hành và thiết kế công thức” 

Những thay đổi này ở trong xu hướng dinh dưỡng chuẩn xác. “ Tôi nghĩ các công ty không chỉ hướng đến dinh dưỡng chuẩn xác, mà tôi nghĩ rằng họ muốn chăn nuôi một cách chuẩn xác, và trong đó dinh dưỡng là một yếu tố quan trong…. và sau cùng chi phí của sản xuất lợn chỉ là chi phí thức ăn.” Polmar chia sẻ.

Hệ thống và mô hình chuẩn xác sẽ được phát triển dựa vào các thông tin hiện hữu như là lượng thức ăn tiêu thụ vào và hành vi con vật. Các nhà sản xuất sẽ thêm vào các cảm biến khác, như là cân cảm biến, mô hình để ước tính “hồ sơ dinh dưỡng” trở nên chính xác hơn. Hệ thống thức ăn chuẩn xác này còn tăng việc tự động hóa trong sản xuất , sử dụng công nghệ theo dõi và quan sát hành vi ăn và quá trình sinh trưởng. “ Máy tính sẽ là là người quyết định dựa vào các thông tin chúng ta có, và nó có thể sẽ trộn 2-3 lại thức ăn khác nhau trong một số trường hợp”, Polmar thêm vào. 

Việc cho ăn cũng sẽ được tự động hoá, và nhà sản xuất và nhà dinh dưỡng khi đó sẽ có những vai trò mới trong sản xuất, ông ấy nói. 

Thiết kế nguyên liệu không sử dụng kháng sinh

Theo ông Lilburn, thay đổi phương pháp sản xuất, như việc tiến tới sản xuất không sử dụng kháng sinh, sẽ mang đến nhiều thử thách về hiệu suất thức ăn cho nhà sản xuất gia cầm và có thể hướng đến sử dụng nguyên liệu mới. Sử dụng kháng sinh giúp giảm tổng lượng vi sinh vật trong ruột và giúp gia cầm có thể hấp thu dinh dưỡng dễ dàng và hiệu quả hơn, ông ấy nói. Vì thế, không sử dụng kháng sinh sẽ dẫn đến giảm hiệu suất thức ăn. Sự chuyển đổi này đã thu hút một số nhà sản xuất chất bổ sung thảo dược và organic acid, và đã được sử dụng nhiều ở Châu Âu, ông ấy nhận xét. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là phương pháp nào là tốt nhất và làm sao ta có thể đo được hiệu quả của nó. 

Câu hỏi còn lại và điều gì cần làm tiếp

Hiện tại, nhóm của Polmar đang làm nghiên cứ để tạo nên feeder tự động và sử dụng trong thương mại. “ Nó phải vừa phải bền và không tốn kém – đó là một thử thách” ông Polmar nói. 

Thêm vào đó, hệ thống sẽ cung cấp cách kết hợp nguyên liệu mới và nguyên liệu địa phương. Polmar nghĩ rằng “ Đây là cơ hội tốt để xem nguyên liệu ta có hôm nay mà ta không sử dụng nhiều” 

“ Lợn trưởng thành có thể ăn nhiều hơn nhưng chúng ta chưa có tận dụng khả năng đó” ông Polmar nhận xét. “ Với chăn nuôi chuẩn xác, ta có thể mở ra nhiều cơ hội sử dụng nhiều nguồn nguyên liệu khác, nhưng chúng ta cần phát triển công nghệ đó- hiện nay ta chưa có thể thiết kế được một dinh dưỡng có hàm lượng xơ cao, hoặc sử dụng sản phẩm hỗ trợ, đó là điều chúng ta cần phải nghiên cứu phát triển”. 

Một khía cạnh khác có thể nghiên cứu thêm là chế độ ăn cho lợn đang tiết sữa. “ Tôi có thể thấy nhu cầu của ngành để thực hiện chế độ ăn đầu, giữa và cuối quá trình mang thai, và nhu cầu về công nghệ và hệ thống cho ăn cho chế độ ăn đó”, Hostetler chia sẻ. 

Đồng thời có các quan tâm về chế độ ăn đáp ứng nhu cầu trong điều kiện dịch bệnh của lợn. Các nghiên cứ mới đang được tiến hành quan tâm về vấn đề nhu cầu dinh dưỡng của con vật thay đổi khi nó bị bệnh hoặc bị stress nhiệt và dinh dưỡng nào hỗ trợ nó giúp nó phục nhanh chống hơn. 

Dịch và Biên Soạn: Công ty Vương Sơn

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *