25/12/2018

Dinh dưỡng là chìa khóa của phòng chống dịch bệnh trong thủy sản

Ảnh: Ông Thiago Soligo ở hội nghị bàn tròn thủy sản TARS 2018




Kết quả của một thí nghiệm ở Ecuador đã cho thấy rằng dinh dưỡng là biện pháp hiệu quả để phòng ngừa bệnh đốm trắng (WSSV). Ông Thiago Soligo - Giám đốc thủy sản của công ty DSM đã thảo luận kết quả của thí nghiệm này trong bài thuyết trình của mình tại TARS 2018- “Dinh Dưỡng là biện pháp phòng bệnh đốm trắng trên tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương tại Ecuador”

Sự bùng phát của dịch bệnh WSSV đã khiến các nước sản xuất tôm rơi vào tình trạng trì trệ. Dịch bệnh đem lại hậu quả nghiêm trọng, như là việc tôm chết hàng loạt trong các trang trại ở khu vực Châu Á, Trung và Nam Mỹ. Soligo nói rằng đây là mầm bệnh nguy hiểm. Nó đã tấn công vào Nam Mỹ năm 1999, khi khu vực ở giai đoạn ban đầu của phát triển của ngành nuôi tôm, và lây lan sang 9 quốc gia ven biển Thái Bình Dương. Dịch bệnh thường xảy ra vào thời điểm giao mùa hoặc mùa mưa khi nhiệt độ giảm đột ngột. Việc tử vong mãn tính của tôm làm giảm tỷ lệ sống sót từ 70% còn 40%.

Hoạt động chăn nuôi và sản xuất giống gần như biến mất ở phía nam Brazil bởi vì WSSV. Dịch bệnh bùng phát ở Brazil là nguyên nhân gây tê liệt ngành xuất khẩu và chuyển hướng sản xuất cho mỗi thị trường nội địa. “Khi dịch bệnh xảy ra, ngành sản xuất bị giảm đột ngột và đưa đến một thời kỳ thay đổi. Dịch bệnh là cơ hội giới thiệu một phương pháp chăn nuôi tôm mới".

Sự tiến triển của phương pháp chăn nuôi

Sản xuất tôm đã có cái nhìn và phương pháp mới mẻ hơn để chống lại sự lan tràn của dịch bệnh. Soligo đã phân tích rõ hơn về những cải tiến sáng tạo kỹ thuật trong công nghê. 

Ở Ecuador, tôm giống được cải thiện bằng gene để có khả năng lớn nhanh và kháng bệnh, nhằm giúp khôi phục ngành nuôi tôm quay lại mức phát triển trước dịch bệnh WSSV bắt đầu năm 2006. Lợi nhuận và chi phí sản xuất tăng lên bằng cách sử dụng hiệu quả các nguyên liệu như nguồn nước và thức ăn thủy sản. Các nhà sản xuất ở Brazil phải chuyển đổi cơ cấu sản xuất thâm canh trong hồ nhỏ (0.1-0.4 ha) với mật độ 170-250 PL/m2, hồ có máy che, tấm phủ HDPE, nước đối lưu, không sử dụng trao đổi nước và hệ thống biofloc.

Ở Guatemala, các nhà sản xuất bắt đầu áp dụng nuôi thâm canh (hyper-intensive culture). Họ sử dụng các giống lớn nhanh và kháng bệnh, chu kì ngắn để tránh những tháng nhiệt độ thấp (tháng 11 tới tháng 2) và dọn sạch đáy hồ bằng siphoning. Ở Costa Rica, bộ ngành đã đặt mục tiêu tăng giá thị trường bằng cách nâng cao giá trị của sản phẩm thông qua các hệ thống chứng nhận, để bù lại cho tình trạng giá sản xuất cao ở trong nước.

Soligo nhận xét: “Thay đổi sang sản xuất tập trung vào công nghệ và thâm canh hiệu quả đã giúp cho nhà chăn nuôi tăng sản xuất trong những năm vừa qua”, thêm vào đó quản lý trang trại và an toàn sinh học để phòng chống và điều tiết sự hiện diện của các bệnh trên tôm có tầm quan trọng lớn. Những phương pháp quản lý tốt nhất đã được áp dụng ở toàn khu vực Nam Mỹ. 

Tăng cường hệ miễn dịch

Tôm có một hệ miễn dịch tối giản dựa vào cơ chế miễn dịch không riêng biệt và bẩm sinh, bởi vì nó không có hệ thống miễn dịch thích ứng và trí nhớ miễn dịch liên quan. Chính vì tôm chỉ có 1 hệ thống bảo vệ, Soligo nhấn mạnh việc giảm các điều kiện không phù hợp ảnh hưởng xấu đến khả năng miễn dịch như là stress và các yếu tố môi trường. “Điều này có thể thực hiện bằng cách tăng kiểm soát các yếu tố môi trường như là nhiệt độ, oxy, độ mặn và độ pH".

Thêm vào đó, ông còn nhấn mạnh tầm quan trọng của dinh dưỡng trong việc tăng cường sức khỏe. “Chúng tôi đề nghị giải pháp sức khỏe trên tôm là các phương pháp phòng bệnh để tăng cường hệ miễn dịch, phòng chống stress và dịch bệnh. Phòng bệnh tốt hơn chữa bệnh khi đối phó với dịch". Ông ấy gợi ý rằng việc bổ sung đầy đủ vi lượng và chất kích thích hệ miễn dịch sẽ hỗ trợ cho sự phát triển của hệ miễn dịch bẩm sinh. Nó giúp hoạt động hiệu quả và giảm nguy cơ nhiễm bệnh thứ cấp.

Soligo giải thích rằng yếu tố quan trọng để phát triển của kích thích miễn dịch là kết hợp hiệp lực của các chất điều hòa có tác dụng miễn dịch khác nhau. Nó bao gồm hoạt động thực bào, tăng số lượng tế bào lympho và chất độc tế bào cytotoxin tự nhiên.

Sự hiệp lực của các chất khác nhau

“Một thành phần quan trọng để kích thích hệ miễn dịch là nucleotide. Nó giúp tăng số tế bào, nâng cao phản ứng miễn dịch không riêng biệt, kháng bệnh tật và giảm triệu chứng của stress. Thí nghiệm ở Thái Lan cho thấy sản phẩm giàu nucleotide hỗ trợ tôm thẻ chân trắng chống lại các khuẩn có hại như vi khuẩn Vibrio harveyi và vi rút WSSV. Mức nucleotide sử dụng trong thí nghiệm là 75 ppm, 150 ppm và 225 ppm.

Từ kết quả thí nghiệm này, Viện Nghiên Cứu Thủy Hải Sản (CENAIM) ở Ecuador đã đề xuất các thức ăn tăng cường có thêm hàm lượng vitamin và chất bổ sung. Một thí nghiệm 2 giai đoạn sử dụng thức ăn tăng cường đã được thực hiện vào tháng 7 năm 2017. “Giai đoạn đầu tiên là thử nghiệm ở tôm 3.8g trong hồ với mật độ 16 tôm/m2, vì mật độ thông thường của các trang trại Ecuador là 12-16 tôm/m2. Giai đoạn thứ hai là kiểm tra thử thách sử dụng tế bào nhiễm bệnh WSSV. Những thông tin từ thí nghiệm này hỗ trợ chứng minh khả năng hợp lực của các nguyên liệu sử dụng” Soligo đã nói.

“Mô hình của chúng tôi cho rằng nucleotide giúp tăng số lượng tế bào miễn dịch, chứ không tạo nucleotide mới. Chất beta-glucan kích thích phản ứng thực bào bằng cách bám vào màng tế bào và hệ thống prophenoloxidase”. Ông ấy nói thêm vitamin C, một chất chống oxy hóa quan trọng ở mức tế bào, sẽ giúp bảo vệ tế bào trong việc oxy hóa; vitamin E giúp chống oxy hóa trên màng tế bào để giúp lưu động trao đổi chất giữa các tế bào và nâng cao trạng thái chung của tế bào.

Soligo nhấn mạnh lại về việc quản lý tốt sẽ giúp an toàn sinh học và tăng cường khả năng kháng bệnh của tôm. Một trong những cách quản lý bao gồm sử dụng premix cho sức khỏe. “Chúng tôi đề nghị sử dụng premix boost đều đặn xuyên suốt quá trình sản xuất sẽ hỗ trợ phòng bệnh và giảm stress, đem lại tỉ lệ sống sót cao hơn. Premix boost giúp chuẩn bị tôm cho các đợt dịch bệnh, tăng cường sức khỏe tổng quát, giảm tình trạng stress và có hệ miễn dịch ban đầu tốt”. Ông ấy kết thúc với lời khuyên sử dụng thức ăn 2 hoặc 3 tuần liên tục trước các những đợt nguy hiểm hay căng thẳng.

Nguồn: November/December 2018 AQUA culture Asia Pacific Magazine