28/11/2018

Chất béo trong dinh dưỡng cho bò sữa: Cần chú ý điều gì?

Việc bổ sung chất béo vào chế độ ăn của bò sữa có thể cải thiện sự cân bằng năng lượng ở bò đang cho con bú và từ đó cải thiện khả năng sinh sản, sản xuất sữa và các chức năng sinh học khác. Tuy nhiên, việc bổ sung chất béo phải được theo dõi cẩn thận.
Nguồn chất béo có thể được nhóm thành 2 loại chính:

1. Chất béo tự nhiên
2. Chất béo thương mại

Nhìn chung, chất béo tự nhiên có thể thêm vào để cung cấp 2-3% chất béo bổ sung cho chế độ ăn. Khi tổng mức chất béo trong khẩu phần ăn phải vượt quá 5% vật chất khô (DM), chất béo thương mại có lợi ích rõ ràng hơn. Chất béo thương mại rất quan trọng đối với sự trơ của dạ cỏ và rất thuận tiện trong việc sử dụng. Các yếu tố quan trong khi so sánh những loại chất béo thương mại khác nhau là giá cả, tính khả dụng, đặc tính ngon miệng, độ trơ và khả năng tiêu hóa. Lượng chất béo thêm vào chế độ ăn cũng phụ thuộc vào các thành phần khác trong thức ăn gia súc (ví dụ: thức ăn có chất lượng cao hay thấp và mức chất béo chưa bão hòa từ các nguồn).

Bổ sung bao nhiêu?

Nói chung, 1% - 3% chất béo bổ sung trong chế độ ăn sẽ không có tác dụng phụ, nhưng điều này phụ thuộc vào mức độ bão hòa chất béo và hàm lượng chất xơ trong chế độ ăn. Phương trình sau đây tính lượng chất béo bổ sung để bổ sung vào chế độ ăn dựa trên mức chất xơ trong khẩu phần và không bão hòa fatty acid (UFA) trong nguồn chất béo (Jenkins, 1997): Chất béo,% chế độ ăn uống DM = (4 × NDF) / UFA. Trong đó UFA = tỉ lệ phần trăm axit béo chưa bão của tổng FA, và NDF (neutral detergent fibre) = chất xơ tan trong dung dịch trung tính. Ví dụ như một chế độ ăn cho bò sữa với NDF 32% và dự tính sử dụng đậu nành rang, (4 × 32) / 85 = 128/85 = 1,5% chất béo từ đậu tương rang. Tuy nhiên, vì đậu nành rang chứa khoảng 20% ​​chất béo, cho nên 7,5% của chế độ ăn sử dụng đậu nành rang để cung cấp 1,5% chất béo chưa bão hòa trong chế độ ăn từ đậu nành.

Ảnh hưởng đến khả năng sinh sản
Việc bổ sung chất béo có thể cải thiện thông số sinh sản theo 2 cách. Thứ nhất là cải thiện tình trạng năng lượng của bò và thứ hai là tác dụng của các axit béo trong hệ thống nội tiết. Việc bổ sung chất béo vào thức ăn của bò sữa dẫn đến sự gia tăng hàm lượng progesterone trong máu. Progesterone được tổng hợp bởi hoàng thể (corpus luteum) và nó rất quan trọng việc cấy phôi thai trong tử cung thành công để duy trì thai và cung cấp dinh dưỡng cho phôi thai. Khi chế độ ăn được bổ sung chất béo, hàm lượng progesterone trong máu cao có thể gia tăng cholesterol trong máu và tăng kích thước các nang. Các loại FA của chất béo bổ sung, ví dụ như là axit linoleic, rất quan trọng trong việc tác động tích cực đến khả năng sinh sản.  Vì thế, đã có nhiều quan tâm hơn trong việc cho ăn các nguồn chất béo tự nhiên có hàm lượng axit linoleic cao hơn và sự phát triển của các muối canxi có hàm lượng axit linoleic cao.

Photo: Ton Kastermans









Ảnh hưởng đến sữa và mêtan

Khẩu phần có chất béo bổ sung thường làm tăng sản lượng sữa so với khẩu phần đối chứng không thêm chất béo, quan sát thấy khẩu phần có chất béo bổ sung mặc dù giảm lượng DM nhưng được bù đắp bằng mức năng lượng tiêu thụ tăng lên. Bò sữa, năng suất sữa tăng khi được bổ sung chất béo động vật dạng vi bọc hoặc ở dạng muối canxi của dầu cọ khi acid béo độ bão hòa cao hơn. Việc bổ sung chất béo vào khẩu phần của thú nhai một cách hiệu quả và dễ dàng giảm sản sinh mêtan và do đó làm giảm những tác động tiêu cực của mêtan đối với hiệu suất năng lượng. Tuy nhiên, hiệu quả của chất béo trong sản xuất khí mêtan còn tùy thuộc vào nguồn chất béo và có thể ảnh hưởng quá trình hydro hóa sinh học của các axit béo chưa bão hòa trong dạ cỏ, kích thích sản xuất axit propionic và phòng ngừa hoạt động của protozoa

Khi sử dụng trong giai đoạn tiết sữa

Vì chất béo không hạn chế được sự giảm trọng lượng cơ thể (BW) trong thời gian tiết sữa và vì các vấn đề ngon miệng bị ảnh hưởng bởi một số chất béo nhất định, chất béo không được bổ sung nhiều cho đến 30 ngày sau khi sinh. Chiến lược này cho phép bò cái có thời gian để điều chỉnh thích nghi với giai đoạn tiết sữa trước khi bổ sung chất béo trong chế độ ăn. Chiến lược thực hiện trong 2 - 4 tuần đầu tiên của giai đoạn tiết sữa để tối đa hóa lượng hấp thụ DM hơn là hấp thu năng lượng. Sau khi lượng hấp thụ đạt đươc mức độ chấp nhận được, thì chuyển trọng tâm mới vào lượng năng lượng. Bò cái trong giai đoạn tiết sữa có chế độ ăn bổ sung chất béo có khả năng bị ketosis (một loại rối loạn trao đổi chất vì lượng ketons dư thừa trong tuần hoàn máu dẫn đến đốt cháy chất béo tạo năng lượng). Để tránh vấn đề này, các chuyên gia dinh dưỡng khuyên nên tránh các chất béo và dầu bổ sung trực tiếp vào khẩu phần của bò vì chất béo đó có thể bị “đốt” để tạo ra năng lượng dẫn đến mất cân bằng năng lượng và giữ mỡ cơ thể “tan chảy”. Thay vào đó, sự nhấn mạnh nên-một lần nữa-là tăng lượng chất khô hấp thụ. .

Yếu tố dạ cỏ
Từ quan điểm sinh lý dạ cỏ, bò không thể xử lý mỡ và dầu, với ít nhất lượng đáp ứng nhu cầu cần thiết để sản xuất sữa cao. Vấn đề ở đây chủ yếu về chất béo chưa bão hòa. Chất béo không bão hòa có thể gây độc hại đối với vi sinh vật tiêu hóa chất xơ. Chất cũng có xu hướng bao bọc các hạt chất xơ, do đó hạn chế sự tiếp xúc của vi sinh vật tiêu hóa chất xơ. Sự kết hợp của cả hai phản ứng tiêu cực trên ảnh hưởng đến việc tiêu hóa chất xơ, dẫn đến giảm độ pH dạ cỏ và toan dạ (acidosis). Tốt nhất là sẽ loại bỏ tất cả chất béo và dầu khỏi khẩu phần, nhưng điều này là không có tính khả thi. Một cách tiếp cận tốt hơn là để cho phép mỗi con bò nhận được không quá nửa kg chất béo hàng ngày từ các loại dạng nguyên hạt như hạt bông, đậu nành, hạt cải dầu, vv. Hạt nguyên tốt hơn hạt xay vì chất béo có thể giải phóng dần dần trong quá trình hoạt động của dạ cỏ.

Bổ sung thêm một phần tư chất béo bão hòa (như dầu mỡ và mỡ động vật) vào số lượng chất béo trên, vì chất béo bão hòa có xu hướng đắt tiền hơn. Nếu ngược lại là đúng, ta có thể cho ăn ba phần tư số kilogam chất béo bão hòa. Các trang trại gặp nhiều khó khăn trong việc bảo quản chất béo bão hòa, vì chúng cần thiết bị đặc biệt để giữ cho chúng lỏng, đặc biệt là trong thời gian lạnh. Có các nguồn chất béo trơ thương mại (có độ bão hòa cao) có thể được sử dụng mà không sợ ảnh hưởng đến độ pH của dạ cỏ. Những chất béo đó ở dạng chất béo hydro hóa, xà phòng canxi và dạng vi bọc. Một nhược điểm lớn là giá cả của chúng, nhưng thông thường các chất béo đó mang lại giá trị cao khi bò có năng suất cao. Ngoài ra, chúng ở dạng thuận tiện khô và có thể được cho ăn lên đến nửa kg mỗi con bò mỗi ngày, cùng với số lượng các chất béo khác được đề cập ở trên.

Nguồn: Allaboutfeed.net

Dịch: Vuong Son